Hiển thị các bài đăng có nhãn vitamin cho bé. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn vitamin cho bé. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Hai, 23 tháng 7, 2012

Kinh nghiệm chăm sóc bé - Phần 19

(lamchame)


Sử dụng thuốc bổ sung vitamin cho trẻ như thế nào?

Vitamin (còn gọi là sinh tố) là những chất dinh dưỡng cần thiết được cung cấp hằng ngày để cơ thể phát triển và hoạt động bình thường. Tuy lượng cung cấp nhỏ, thậm chí rất nhỏ, nhưng số vitamin cần thiết lại lên đến con số 13, gồm 4 vitamin tan trong dầu là A, D, E, K và 9 vitamin tan trong nước như vitamin C, các vitamin nhóm B (B1, B2, B5, B6, PP.). Vì thế việc lựa chọn thuốc bổ sung vitamin không đơn giản. 

Những bước tiến mới trong việc nghiên cứu vitamin 
Do cơ thể không thể tự tổng hợp được vitamin (ngoại trừ khi tắm, phơi nắng thích hợp để biến tiền vitamin D thành vitamin D), nên ta phải ăn uống đầy đủ và cân bằng dưỡng chất để được cung cấp đủ vitamin. Nếu hằng ngày, ăn uống đầy đủ chất, với 600g thức ăn ta sẽ được cung cấp khoảng 1g vitamin. 
Hiện nay, việc nghiên cứu về tác dụng của vitamin đã có nhiều bước tiến mới. Ngoài chức năng dinh dưỡng, nhiều công trình khoa học còn ghi nhận chức năng sinh hóa mới của một số vitamin; như vitamin K có thêm chức năng tham gia chuyển hóa canxi, vitamin D tham gia vào chức năng miễn dịch (tức sự đề kháng) của cơ thể, vitamin B6 tham gia điều hòa các chất sinh học có cấu trúc steroid (như hormon sinh dục) v.v... Đặc biệt, có 3 vitamin được công nhận có tác dụng chống ôxy hóa là vitamin C, vitamin E, beta-caroten (tức tiền vitamin A). Đây là những vitamin có thể vô hiệu hóa các gốc tự do (là các chất có hại cho cơ thể) giúp bảo vệ tế bào, mô, phòng ngừa một số bệnh, làm chậm quá trình lão hóa. 

Những đối tượng nào cần được bổ sung vitamin? 
Nếu hằng ngày ta ăn uống với chế độ dinh dưỡng cân bằng, đầy đủ thì không sợ thiếu vitamin. Đặc biệt, nên tăng cường rau cải, trái cây các loại cho bữa ăn vì đây là nguồn vitamin thiên nhiên rất tốt. Nên lưu ý một số đối tượng có nguy cơ thiếu vitamin như người ăn kiêng (người ăn chay trường), người bệnh (nhiễm khuẩn, bỏng, phẫu thuật), người cao tuổi, phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú, người nghiện rượu, hút thuốc nhiều... Riêng đối với trẻ bị suy dinh dưỡng, chậm lớn, đương nhiên phải được bổ sung vitamin; hoặc trẻ sau giai đoạn bị bệnh (nhiễm khuẩn, ho hen, tiêu chảy...) thì việc uống thêm vitamin là cần thiết. 

Trẻ bình thường có cần thiết bổ sung vitamin? 
Về mặt lý thuyết, nếu trẻ ăn uống cân bằng, hợp lý, đầy đủ và tình trạng bình thường (tức không có dấu hiệu suy dinh dưỡng) thì không cần bổ sung vitamin. Tuy nhiên, nếu nghi ngờ chế độ ăn không cung cấp đầy đủ thì ngay cả những trẻ khỏe mạnh cũng nên bổ sung vitamin. Bởi vì các vitamin vốn có trong thực phẩm sẽ bị mất đi hay giảm trầm trọng trong một bữa ăn đầy đủ nhưng chất lượng thực phẩm không bảo đảm (rau bị héo, trái cây không còn tươi nên mất nhiều vitamin C), hoặc bảo quản chế biến thực phẩm không tốt (gạo càng trắng càng có ít vitamin B1, thức ăn nấu quá kỹ vitamin C sẽ không còn...). Vì vậy nhiều khi bác sĩ vẫn khuyên cho những trẻ xem ra khỏe mạnh uống bổ sung vitamin. Còn với trẻ béo phì, bác sĩ thường khuyên nên ăn chế độ ít chất béo và cần thiết phải bổ sung các vitamin, vì chế độ ăn ít chất béo không giúp hấp thu đủ lượng vitamin tan trong dầu là vitamin A, D, E, K. 

Những lưu ý khi dùng bổ sung vitamin cho trẻ 
- Sử dụng thuốc bổ sung vitamin không thay thế được thức ăn, mà vẫn phải ăn uống đầy đủ, cân bằng các nhóm thực phẩm. 
- Trong các loại vitamin, vitamin A và D không được dùng thừa, vì dùng quá liều sẽ tích lũy lại trong cơ thể và có thể gây ngộ độc. Nếu dùng loại multivitamin ngày uống 1 viên thì không được chứa quá 5.000 đơn vị quốc tế (IU) vitamin A và không quá 400 IU vitamin D. Nếu dùng loại dung dịch uống, phải lấy số giọt hoặc thể tích (số ml) theo đúng bản hướng dẫn sử dụng thuốc. Nên cho trẻ dùng dạng lỏng như dung dịch uống vì vừa dễ uống vừa dễ hấp thu. 
- Không nên dùng vitamin C liều quá cao (hơn 1g/ngày) vì có thể gây tiêu chảy, loét đường tiêu hóa, sỏi thận khi dùng dài ngày.


http://shoptretho.com.vn
Read more...

Kinh nghiệm chăm sóc bé - Phần 17 (Thực đơn ăn dặm cho bé từ 10-12 tháng)

(lamchame)


CÁCH NẤU MỘT SỐ LOẠI BỘT CHO TRẺ 10-12 THÁNG TUỔI

Cách cho ăn:
- Ngày cho ăn từ 3-4 bữa bột đặc
- Bú mẹ theo yêu cầu của bé 
- Uống nước hoa quả và ăn hoa quả chín nghiền nát 2-3 lần / 1 ngày
Một số mẫu công thức bột:

1. Bột lạc:
- Lạc rang chín giã nhỏ mịn: 4 thìa cà phê
- Bột gạo : 5 thìa cà phê
- Nước : 1 bát con
- Rau xanh: 2 thìa cà phê
- Nước mắm : 2/3 thìa cà phê

2. Bột đậu xanh bí đỏ:
- Bột gạo xay lẫn đậu xanh (1kg gạo + 2 lạng đậu xanh): 5 thìa
- Bí đỏ : 4 miếng nhỏ nghiền nát
- Mỡ ăn (dầu ăn): 1-2 thìa
- Nước : 1 bát con
- Nước mắm : 2/3 thìa cà phê

3. Bột cua:
- Bột gạo tẻ: 5 thìa cà phê
- Nước lọc cua: 1 bát ăn cơm (5 con)
- Mỡ ăn (dầu ăn): 1-2 thìa cà phê
- Rau xanh giã nhỏ: 2-3 thìa cà phê
- Nước mắm : 2/3 thìa cà phê

4. Bột tôm:
- Bột gạo: 5 thìa cà phê
- Tôm tươi: 3 thìa (bỏ vỏ giã nhỏ)
- Mỡ ăn (dầu ăn): 1-2 thìa cà phê
- Rau xanh giã nhỏ: 2-3 thìa cà phê
- Nước : 1 bát con 
- Nước mắm : 2/3 thìa cà phê

5. Bột trứng: 
- Bột gạo: 5 thìa cà phê
- Trứng gà: 1 lòng đỏ hoặc 4 quả trứng chim cút
- Mỡ ăn (dầu ăn): 1-2 thìa cà phê
- Rau xanh giã nhỏ: 2-3 thìa cà phê
- Nước : 1 bát con 
- Nước mắm : 2/3 thìa cà phê

6. Bột thịt:
- Bột gạo: 5 thìa cà phê
- Thịt nạc: 3 thìa cà phê
- Mỡ ăn (dầu ăn): 1-2 thìa cà phê
- Rau xanh giã nhỏ: 2-3 thìa cà phê
- Nước : 1 bát con 
- Nước mắm : 2/3 thìa cà phê

7. Bột cá:
- Bột gạo: 5 thìa cà phê
- Cá gỡ bỏ sạch xương: 3 thìa cà phê
- Mỡ ăn (dầu ăn): 1-2 thìa cà phê
- Rau xanh giã nhỏ: 2-3 thìa cà phê
- Nước : 1 bát con 
- Nước mắm : 2/3 thìa cà phê

8. Bột gan:
- Bột gạo: 5 thìa cà phê
- Gan (gà, lợn) băm hoặc nghiền nát: 3 thìa cà phê
- Mỡ ăn (dầu ăn): 1-2 thìa cà phê
- Rau xanh giã nhỏ: 2-3 thìa cà phê
- Nước : 1 bát con 
- Nước mắm : 2/3 thìa cà phê


http://shoptretho.com.vn - Thiên đường cho bé
Read more...

Kinh nghiệm chăm sóc bé - Phần 18 (Thực đơn ăn dặm cho bé 1-2 tuổi)

(Lamchame)


CÁCH NẤU MỘT SỐ LOẠI CHÁO CHO TRẺ 1-2 TUỔI

1. Cháo lạc (1 bát ăn cơm)
- Lạc rang chín giã nhỏ mịn: 3-4 thìa cà phê
- Gạo tẻ : 1 nắm tay
- Nước : vừa đủ
- Rau xanh: 3 thìa cà phê
- Nước mắm : 1 thìa cà phê

2. Cháo đậu xanh hoặc đậu đen:
- Gạo tẻ : 1 nắm tay
- Đậu xanh hoặc đậu đen; = 1/2 lượng gạo
- Rau xanh: 3 thìa cà phê
- Mỡ ăn (dầu ăn): 2 thìa
- Nước : vừa đủ
- Nước mắm : 1 thìa cà phê

3. Cháo tôm:
- Gạo tẻ : 1 nắm tay
- Tôm tươi: 3-4 thìa (bỏ vỏ giã nhỏ)
- Mỡ ăn (dầu ăn): 2 thìa cà phê
- Rau xanh thái nhỏ: 3 thìa cà phê
- Nước : vừa đủ 
- Nước mắm : 1 thìa cà phê

4. Cháo trứng: 
- Gạo tẻ : 1 nắm tay
- Trứng gà: 1 quả (ăn cả lòng trắng)
- Mỡ ăn (dầu ăn): 2 thìa cà phê
- Rau xanh thái nhỏ: 3 thìa cà phê
- Nước : vừa đủ
- Nước mắm : 1 thìa cà phê

5. Cháo thịt (lợn, gà, bò, lươn)
- Gạo tẻ : 1 nắm tay
- Thịt băm nhỏ 3-4 thìa cà phê
- Mỡ ăn (dầu ăn): 2 thìa cà phê
- Rau xanh thái nhỏ: 3 thìa cà phê
- Nước : vừa đủ
- Nước mắm : 1 thìa cà phê

6. Cháo cá:
- Gạo tẻ : 1 nắm tay
- Cá gỡ bỏ sạch xương: 3-4 thìa cà phê
- Mỡ ăn (dầu ăn): 2 thìa cà phê
- Rau xanh giã nhỏ: 3 thìa cà phê
- Nước : vừa đủ
- Nước mắm : 1 thìa cà phê


http://shoptretho.com.vn - Thiên đường cho bé
Read more...

Kinh nghiệm chăm sóc bé - Phần 16 (Thực đơn cho bé ăn dặm 7-9 tháng)

(lamchame)


CÁCH NẤU MỘT SỐ LOẠI BỘT CHO TRẺ 7-9 THÁNG TUỔI

Cách cho ăn:
- Ngày cho ăn từ 2-3 bữa bột đặc
- Bú mẹ theo yêu cầu của bé 
- Uống nước hoa quả và ăn hoa quả chín nghiền nát 2-3 lần / 1 ngày

Một số mẫu công thức bột:

1. Bột lạc:

- Lạc rang chín giã nhỏ mịn: 3 thìa cà phê
- Bột gạo : 4 thìa cà phê
- Nước : 1 bát con
- Rau xanh: 1 thìa cà phê
- Nước mắm : 1/2 thìa cà phê

2. Bột đậu xanh bí đỏ:
- Bột gạo xay lẫn đậu xanh (1kg gạo + 2 lạng đậu xanh): 4 thìa
- Bí đỏ : 4 miếng nhỏ nghiền nát
- Mỡ ăn (dầu ăn): 1 thìa
- Nước : 1 bát con
- Nước mắm: 1/2 thìa cà phê

3. Bột cua:-
- Bột gạo tẻ: 4 thìa cà phê
- Nước lọc cua: 1 bát ăn cơm (5 con)
- Mỡ ăn (dầu ăn): 1 thìa cà phê
- Rau xanh giã nhỏ: 2 thìa cà phê
- Nước mắm : 1/2 thìa cà phê

4. Bột tôm:
- Bột gạo: 4 thìa cà phê
- Tôm tươi: 3 thìa (bỏ vỏ giã nhỏ)
- Mỡ ăn (dầu ăn): 1 thìa cà phê
- Rau xanh giã nhỏ: 2 thìa cà phê
- Nước : 1 bát con 
- Nước mắm : 1/2 thìa cà phê

5. Bột trứng:
- Bột gạo: 4 thìa cà phê
- Trứng gà: 1 lòng đỏ hoặc 4 quả trứng chim cút
- Mỡ ăn (dầu ăn): 1 thìa cà phê
- Rau xanh giã nhỏ: 2 thìa cà phê
- Nước : 1 bát con 
- Nước mắm : 1/2 thìa cà phê

6. Bột thịt:
- Bột gạo: 4 thìa cà phê
- Thịt nạc: 3 thìa cà phê
- Mỡ ăn (dầu ăn): 1 thìa cà phê
- Rau xanh giã nhỏ: 2 thìa cà phê
- Nước : 1 bát con 
- Nước mắm : 1/2 thìa cà phê

7. Bột cá:-
- Bột gạo: 4 thìa cà phê
- Cá gỡ bỏ sạch xương: 3 thìa cà phê
- Mỡ ăn (dầu ăn): 1 thìa cà phê
- Rau xanh giã nhỏ: 2 thìa cà phê
- Nước : 1 bát con 
- Nước mắm : 1/2 thìa cà phê

8. Bột gan:
- Bột gạo: 4 thìa cà phê
- Gan (gà, lợn) băm hoặc nghiền nát: 3 thìa cà phê
- Mỡ ăn (dầu ăn): 1 thìa cà phê
- Rau xanh giã nhỏ: 2 thìa cà phê
- Nước : 1 bát con 
- Nước mắm : 1/2 thìa cà phê


http://shoptretho.com.vn - Thiên đường cho bé
Read more...

Kinh nghiệm chăm sóc bé - Phần 15 (Thực đơn ăn dặm 6 tháng)

(lamchame)


CÁCH NẤU MỘT SỐ LOẠI BỘT CHO TRẺ 6 THÁNG TUỔI

Cách nấu: Quấy đều, nấu chín kỹ, bát bột mịn, đều, có độ lỏng
Cách cho ăn:
- Ngày cho ăn từ 1-2 bữa bột
- Bú mẹ theo yêu cầu của bé (6-8 bữa/1 ngày)
- Uống nước hoa quả 2-3 lần / 1 ngày
Một số mẫu công thức bột:
1. Bột sữa đậu nành (đậu tương):
- Sữa đậu nành : 200ml (1 bát ăn cơm)
- Bột gạo : 2 thìa cà phê
- Đường : 1 thìa cà phê
- Rau xanh: 1 thìa cà phê

2. Bột đậu xanh bí đỏ:
- Bột gạo xay lẫn đậu xanh (1kg gạo + 2 lạng đậu xanh): 2 thìa
- Bí đỏ : 2 miếng nhỏ nghiền nát
- Mỡ ăn (dầu ăn): 1 thìa
- Nước : 1 bát con
- Nước mắm: 1/2 thìa cà phê

3. Bột cua:
- Bột gạo tẻ: 2 thìa cà phê
- Nước lọc cua: 1 bát ăn cơm (khoảng 3 con cua)
- Mỡ ăn (dầu ăn): 1 thìa cà phê
- Rau xanh giã nhỏ: 1 thìa cà phê
- Nước mắm : 1/2 thìa cà phê

4. Bột tôm:-
- Bột gạo: 2 thìa cà phê
- Tôm tươi: 2 thìa (bỏ vỏ giã nhỏ)
- Mỡ ăn (dầu ăn): 1 thìa cà phê
- Rau xanh giã nhỏ: 1 thìa cà phê
- Nước : 1 bát con 
- Nước mắm : 1/2 thìa cà phê

5. Bột trứng: (200ml = 1 bát ăn cơm)
- Bột gạo: 2 thìa cà phê
- Trứng gà: nửa lòng đỏ hoặc 2 quả trứng chim cút
- Mỡ ăn (dầu ăn): 1 thìa cà phê
- Rau xanh giã nhỏ: 1 thìa cà phê
- Nước : 1 bát con 
- Nước mắm : 1/2 thìa cà phê

6. Bột thịt:
- Bột gạo: 2 thìa cà phê
- Thịt nạc: 2 thìa cà phê
- Mỡ ăn (dầu ăn): 1 thìa cà phê
- Rau xanh giã nhỏ: 1 thìa cà phê
- Nước : 1 bát con 
- Nước mắm : 1/2 thìa cà phê


http://shoptretho.com.vn - Thiên đường cho bé
Read more...

Kinh nghiệm chăm sóc bé - Phần 14

(lamchame)


Hạ can xi huyết ở trẻ nhỏ

Canxi là một trong những chất khoáng có vai trò quan trọng trong cơ thể, tham gia vào cấu trúc xương và răng, co cơ, kích thích thần kinh, cơ chế đông máu, hoạt động của tim. Hậu quả của thiếu canxi gây khoáng hóa kém ở xương và răng, loãng xương, còi xương... 

Thức ăn có nhiều canxi là cua đồng (5.040mg/100g), ốc nhồi (1.357mg/100g), tép (910mg/100g), tôm đồng (161mg/100g, trứng, sữa, vừng, đậu tương, rau ngót, rau muống, rau giền, rau bí. 

Canxi được hấp thu ở phần trên ruột non và được hỗ trợ của vitamin D, dịch axít, mật ở ruột, lactose... nhưng bị cản trở nếu chế độ ăn có nhiều oxalat, phytat, chất béo. 

Lượng canxi huyết thanh bình thường là 9-10mg/dl trong đó 50% được gắn vào albumin và 50% ở dưới dạng tự do, ion hóa. Canxi ion 4,5-5mg/dl. 
Canxi tự do trong máu được cung cấp qua thức ăn và từ xương. Hàng ngày, canxi được huy động từ xương vào máu nhờ hormon cận giáp. 

Canxi thừa được thải ra ngoài theo phân và nước tiểu. 

Nhu cầu canxi ở trẻ dưới 1 tuổi là 300mg/ngày và trẻ trên 1 tuổi 500-700mg/ngày. 

Hạ canxi huyết khi canxi huyết thanh dưới 7,5mg/dl. 

Hạ canxi huyết ở trẻ dưới 6 tháng tuổi 

Nguyên nhân do mẹ bị tiểu đường, chế độ ăn thiếu canxi. 
Trẻ đẻ thấp cân, ngạt lúc đẻ, thiểu năng cận giáp. 
Trẻ được nuôi bằng sữa bò có nhiều photphat, trẻ còi xương sớm. 

Biểu hiện của hạ canxi huyết ở lứa tuổi này là trẻ luôn luôn trong tình trạng co thắt (spasmophilie). 

Khi ngủ hay giật mình rồi khóc thét, cơn khóc kéo dài hàng giờ như khóc dạ đề. 

Khi thở có tiếng rít do mềm sụn thanh quản. Kèm theo co thắt thanh quản gây khàn tiếng, khó thở tím tái và có khi ngừng thở. 

Sự co thắt dạ dày, cơ hoành, ruột và bàng quang làm cho trẻ nôn trớ, nấc cụt, són phân và nước tiểu. 

Hạ canxi huyết ở trẻ còi xương do thiếu vitamin D hoặc do chế độ ăn thiếu canxi 

Ở trẻ còi xương hạ can xi huyết thường xuất hiện ở giai đoạn đầu của còi xương do kém hấp thu canxi hoặc giai đoạn bệnh hồi phục do kém tái hấp thu ở ống thận. 

Khi chế độ ăn thiếu canxi, cơ thể vẫn tiếp tục bài xuất canxi với số lượng lớn nhờ vào dự trữ. Nếu cân bằng canxi tiếp tục âm tính trong thời gian dài có thể gây hạ canxi huyết. 

Bệnh biểu hiện rõ là cơn tetani, co giật toàn thân, liên tiếp nhiều cơn. Cơn co giật có khi kéo dài 3-4 phút sau đó trẻ khóc thét lên rồi trở lại bình thường hoặc trẻ tím tái ngừng thở và có thể tử vong do co thắt thanh quản. Một số trẻ có biểu hiện rõ co thắt các cơ, phát hiện thấy có dấu hiệu Trousscau (bàn tay đỡ đẻ) dấu hiệu Chvostek (gõ vào cơ má gây run cơ môi cùng bên) ngoài ra trẻ hay bị nôn do co thắt dạ dày. 

Muốn chẩn đoán chắc chắn phải dựa vào các triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm máu định lượng canxi huyết thanh (dưới 7,5mg/dl) và canxi ion (dưới 2,8mg/dl). 

Nếu hạ canxi huyết cấp và có cơn tetani thì tiêm tĩnh mạch chậm gluconat canxi. Sau khi tạm ổn định thì tiếp tục cho uống canxi kết hợp với vitamin D. 
Nếu canxi huyết thanh giảm nhẹ, không có cơn giật thì cho uống gluconat canxi kết hợp với vitamin D kéo dài cho đến khi canxi huyết thanh trở về bình thường. 

Ở trẻ còi xương, song song với điều trị vitamin D cần phải uống thêm canxi. Nếu trẻ còi xương đã hồi phục thì giảm liều vitamin D xuống liều phòng bệnh thông thường. Cho trẻ tắm nắng hàng ngày và chế độ ăn của mẹ và con có đủ protein - năng lượng, vitamin, muối khoáng đặc biệt lưu ý thức ăn giàu canxi.
Không nên dùng thuốc ho cho trẻ dưới 1 tuổi 

Không nên dùng thuốc ho cho trẻ dưới 1 tuổi vì lòng phế quản hẹp, dễ tắc đờm dãi, cần có phản xạ ho để tống chúng ra. Hơn nữa, thuốc ho thường chứa chất an thần, chế phẩm thuốc phiện, gây ngủ sâu, ngừng thở; hoặc có chất kháng histamine, corticoid, làm cho đờm khô hơn, gây tắc đường thở.

Ho là một phản xạ sinh lý có mục đích bảo vệ, tống các dị vật, chất dịch tiết, cặn bã... trong lòng đường thở ra ngoài để làm sạch, thông thoáng đường thở. Nó cũng có thể là dấu hiệu của nhiều bệnh lý như u, hạch, tràn khí, tràn dịch trung thất màng phổi, viêm phế quản... Khi trẻ bị ho, cha mẹ cần lưu ý:

- Nếu bé ho lên đờm, hãy cho bé nằm ngang, duỗi thẳng chân trên đùi bạn, sau đó vuốt nhẹ lưng, giúp bé ho dễ hơn. 

- Không cho bé uống thuốc cắt cơn ho đối với chứng ho có sinh đờm. Nếu bé không ho văng đờm ra được thì dễ có nguy cơ nhiễm trùng đường thở. 

- Giúp bé lấy vật lạ ra nếu có. 

- Nên cho bé uống nước chanh nóng pha với mật ong để giúp bé bớt đau họng. 

- Đưa bé đi khám bác sĩ càng sớm càng tốt nếu bé không bớt ho trong khoảng 3-4 ngày, hay bé không ngủ được vào ban đêm, hoặc không lấy được dị vật ra khỏi cuống họng bé. Đưa bé tới bác sĩ điều trị ngay nếu bé sinh ra ho từng cơn, thở khò khè.

- Giữ yên tĩnh cho bé. Giữ ấm để tránh bất cứ nhiễm trùng nào lan vào phổi, gây viêm phế quản. Nhiệt độ trong phòng bé phải đủ ấm, thông thoáng, không để phòng quá nóng. 

- Không cho bé chạy chơi nhiều vào ban ngày bởi vì việc thở hụt hơi có thể tạo ra cơn ho. 

- Nên cho bé nằm sấp hay nằm nghiêng hẳn sang một bên vào buổi đêm để cho chất nhớt không chảy vào cuống họng gây ho. 

- Không hút thuốc trong nhà hoặc đưa bé tới nhiều nơi có khói.

Cha mẹ cần hết sức cẩn trọng trong việc dùng thuốc khi trẻ có cơn ho cấp tính. Chỉ dùng thuốc khi biết rõ nguyên nhân là do nhiễm trùng hô hấp cấp. Nên sử dụng thuốc chống viêm, thuốc giãn phế quản, hút thông đường thở cho trẻ. Với trẻ nhũ nhi (dưới 1 tuổi), không nên dùng thuốc ho.


http://shoptretho.com.vn - Thiên đường cho bé
Read more...

Kinh nghiệm chăm sóc bé - Phần 13

(lamchame)


Cách sử dụng vitamin d trong dự phòng và điều trị còi xương

Hai quan điểm về cách sử dụng vitamin D

Nguyên nhân gây bệnh còi xương là do thiếu vitamin D, việc điều trị chủ yếu là uống vitamin D kết hợp với calci. Có hai quan điểm về cách sử dụng vitamin D là: Dùng một liều tức thì hoặc dùng liều sinh lý hàng ngày. Dùng một liều tức thì (200.000-400.000 đơn vị) dựa trên cơ sở: Vitamin D sẽ dự trữ trong các mô của cơ thể, sau đó được giải phóng dần theo nhu cầu của cơ thể. Một số tác giả cho rằng nguy cơ gây tăng calci máu khi dùng liều tức thì sẽ xảy ra, nhất là trong dự phòng. Tuy nhiên qua các nghiên cứu, người ta chỉ thấy có hiện tượng tăng calci máu trong các trường hợp dùng liều tức thì cao tới vài triệu đơn vị (đv).

Để đảm bảo an toàn, nên dùng liều hàng ngày vì tránh gây ngộ độc. Việc chỉ định cách sử dụng vitamin D cần phù hợp với các điều kiện chăm sóc về y tế đối với trẻ em.

Dự phòng

Với bà mẹ mang thai và cho con bú: 

- Giải thích cho bà mẹ hiểu sự cần thiết của hoạt động ngoài trời để nhận được ánh nắng mặt trời.

- Phải ăn uống đầy đủ. Vào những tháng cuối thai kỳ nên dùng thức ăn có nhiều vitamin D như cá, trứng, gan..., hoặc uống thêm vitamin D với liều nhỏ (500-1.000 đv/ngày)

Với trẻ em: 

- Trẻ phải được bú mẹ sớm và kéo dài đến 18-24 tháng. Nhất là 6 tháng đầu phải được bú mẹ hoàn toàn.

- Sớm cho trẻ ra ngoài trời ngay từ tháng đầu tiên. Chú ý nuôi dưỡng trẻ đầy đủ, cân đối, phù hợp với nhu cầu phát triển của từng lứa tuổi, đặc biệt lưu ý trẻ sinh non, sinh đôi.

Cách dùng vitamin D

1mg vitamin D2 hoặc D3 tương đương với 40.000 đv.

* Nếu trẻ được chăm sóc chu đáo thì dùng vitamin D liều hàng ngày là tốt nhất.

* Trẻ từ 6 tuần tuổi đến 18 tháng tuổi: Dùng liên tục mỗi ngày 800-1.000 đv cho trẻ khỏe mạnh, 1.500 đv cho trẻ ít ra nắng và 2.000 đv cho trẻ có màu da thẫm.

* Từ 18-60 tháng tuổi: Sử dụng liều trên chỉ trong mùa sương mù, ít ánh nắng.

* Nếu trẻ không được chăm sóc chu đáo thì nên dùng liều cao cách nhau một thời gian. Từ 6-18 tháng: Cứ 6 tháng cho uống 1 liều 200.000 đv. Từ 18-60 tháng dùng liều duy nhất vào đầu mỗi mùa đông trong năm.

* Trẻ sinh thiếu tháng: Từ ngày thứ 8 sau sinh cần 1.500 đv/ngày cho tới 18 tháng. Sau đó tiếp tục phác đồ bình thường.

Điều trị còi xương: 

- Uống vitamin D 1.200 đv - 5.000 đv x 4 tuần, sau đó tiếp tục dùng liều dự phòng.

- Calci 500mg/ngày đối với nhũ nhi; 1.000mg/ngày đối với trẻ trên 2 tuổi, uống 7-10 ngày.

Trong quá trình điều trị cần chú ý phát hiện các dấu hiệu ngộ độc vitamin D (như chán ăn, buồn nôn, tăng calci máu...). Những trường hợp có biến dạng xương như chân vòng kiềng, vẹo cột sống; sau khi điều trị ổn định, phải gửi đến khoa chỉnh hình để điều trị phục hồi.


http://shoptretho.co.vn - Thiên đường cho bé
Read more...

Kinh nghiệm chăm sóc trẻ - Phần 12

(Làm cha me)


Truyền dịch để hạ sốt cho trẻ: Sai lầm
Trong tình hình thời tiết nắng nóng, dễ mắc bệnh hiện nay, nhiều bác sĩ nhi khoa cho biết, hầu như ngày nào họ cũng nhận được yêu cầu từ phía người nhà bệnh nhi xin truyền dịch để giúp trẻ... hạ sốt, bồi bổ cơ thể 
Theo bác sĩ Nguyễn Tiến Dũng, Phó Trưởng Khoa Nhi Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), vào thời điểm nắng nóng, do lượng trẻ bị sốt virus nhiều hơn, nên ngoài việc cho trẻ đi khám và điều trị tại các cơ sở y tế, không ít bậc phụ huynh tìm cách hạ sốt nhanh cho trẻ bằng phương pháp truyền dịch. 
Sốc dịch truyền gia tăng 
Hiện mỗi ngày khoa tiếp nhận từ 10- 20 trẻ bị sốt virus, trong đó có không ít trường hợp bị sốc do truyền dịch. Bất chấp điều này, bác sĩ Hoàng Minh Thu, Trưởng Khoa khám Nhi Bệnh viện Xanh pôn (Hà Nội), cho biết có rất nhiều phụ huynh còn nói với nhau và gợi ý phương pháp điều trị cho bác sĩ rằng, truyền được chai nước vào người là mọi thứ sốt, thậm chí sốt ác tính cũng giảm ngay mà lại không có hại đối với trẻ nhỏ... Và thực tế, cũng không ít cháu bé được nhập viện khi trước đó đã được truyền một vài chai nước nhưng không thấy đỡ. 
Trường hợp chị Thanh Hà, ngụ tại quận Hai Bà Trưng - Hà Nội, là một ví dụ. Chị Hà cho biết, mỗi khi bé gái nhà chị sốt nhẹ, chị đều mời y tá ở phường đến truyền 2- 3 chai dịch để “giải nhiệt” cho cháu. Sau khi truyền dịch, cháu hạ sốt rất nhanh, nhưng lần này đột nhiên cháu bị sốc, người tím tái, khó thở, toát mồ hôi... nên phải đưa tới bệnh viện cấp cứu. Theo bác sĩ Thu, đây không phải là trường hợp điển hình, mặc dù những năm gần đây, hiện tượng sốc do truyền dịch đã giảm đi rất nhiều, do chất lượng dịch truyền tốt hơn, dụng cụ tiêm truyền cũng bảo đảm vô trùng hơn, nhưng hằng năm vẫn có nhiều trường hợp cấp cứu do sốc truyền dịch. Hầu hết, đó là những trường hợp được truyền dịch tại nhà, các phòng khám tư nhân hay trung tâm y tế xã, phường. 
Có thể gây ra nhiều biến chứng 
Theo các chuyên gia nhi khoa, cho đến nay chưa có tài liệu khoa học nào chứng minh dịch truyền là biện pháp hiệu quả trong hạ sốt ở trẻ em. Ngoài những phản ứng phụ đối với sức khỏe, theo bác sĩ Thu, chi phí cho dịch truyền, dụng cụ truyền, công truyền cũng phải 40.000- 50.000 đồng/lần, trong khi đó tác dụng không hơn gì cho trẻ uống nước. Nếu cháu bé bị sốt do viêm phổi, việc truyền dịch còn làm trầm trọng hơn tình trạng bệnh. “Bản chất truyền dịch không phải cắt sốt, hạ sốt, chỉ khi sốt kéo dài bác sĩ mới chỉ định truyền dịch. Tuy nhiên, do quan niệm sai lệch của không ít người, nên việc truyền dịch đang có xu hướng bị lạm dụng, nhất là ở các phòng khám tư”- bác sĩ Thu nhấn mạnh. 
Đồng ý với quan điểm này, bác sĩ Lê Thanh Hải, Trưởng Khoa Cấp cứu lưu Bệnh viện Nhi Trung ương, cho biết sốt là phản ứng tự bảo vệ của cơ thể. Khi có tác nhân có hại từ bên ngoài, cơ thể sẽ tăng chuyển hóa giúp bảo vệ cơ thể chống đỡ bệnh tật nhanh và tốt hơn. Nếu chỉ sốt dưới 38,5oC thì không quá nguy hiểm. Chỉ khi trẻ sốt cao tới 39- 40oC, cơ thể bị mất nước và suy kiệt mới cần những can thiệp đặc biệt. Khi đó, quan trọng nhất là cho trẻ nằm ở nơi thoáng mát, mặc quần áo mỏng, chườm khăn ấm khoảng 35- 37oC, đồng thời, cho trẻ uống nước đầy đủ theo nhu cầu để bù lại lượng nước đã mất. Cách làm này có thể giảm nhiệt hiệu quả tới 60%, trong khi đó, truyền dịch chỉ hiệu quả trong 25%, hơn nữa sẽ rất nguy hiểm nếu trẻ bị sốc và nhiễm trùng. Bên cạnh đó, nó sẽ gây những tác động không tốt đối với trẻ như đau đớn, sợ hãi... 
Quan trọng nhất là bù nước bằng đường uống 
Bình thường một trẻ trung bình cần khoảng 100 ml nước/kg cân nặng. Trong trường hợp sốt, nhu cầu nước sẽ tăng hơn bình thường nên lượng nước có thể cần khoảng 120 ml nước/kg. Do đó, đối với bệnh nhi mới sốt, theo TS Khu Thị Khánh Dung, Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương, biện pháp đơn giản và hiệu quả nhất để bù nước là cho trẻ uống nước, sữa, nước hoa quả, nước canh, dung dịch oresol... Chỉ nên truyền dịch khi trẻ sốt quá cao, bị tiêu chảy, nôn nhiều dẫn tới cơ thể mất nước. Ngoài các nguy cơ sốc dẫn đến tử vong, nếu sát khuẩn không tốt, truyền dịch có thể dẫn đến lây nhiễm các bệnh nhiễm trùng như viêm gan siêu vi. Thậm chí, nếu lượng dịch truyền quá nhiều, cơ thể trẻ lại bị mất nước ưu trương, teo tế bào não rất nguy hiểm.


http://shoptretho.com.vn - Thiên đường cho bé
Read more...

Kinh nghiệm chăm sóc bé - Phần 11

(lamchame)


Những điều cần biết khi chăm sóc trẻ
Các bà mẹ trẻ coi việc vệ sinh cho con là cần thiết. Nhưng họ cũng cần hiểu cách thực hiện thế nào cho đúng.

Có cần thiết phải tắm mỗi ngày không? Rất cần thiết. Tắm để sạch sẽ và cũng là một cách thư giãn cho bé. Nước ấm khoảng 37oC, phòng tắm không có gió lùa. Ban đầu, các buổi tắm phải nhanh. Về sau, thời gian tắm có thể nhiều hơn khi bé đã quen và thích chơi với nước. Vào mùa nóng, nên tắm cho bé khoảng hai lần một ngày vào buổi sáng và tối. Tắm vào buổi tối sẽ giúp bé ngủ ngon giấc hơn.

Có nên gội đầu cho bé hàng ngày? Phải năng lau rửa da đầu, nhất là vào những tháng đầu đời, vì sự điều tiết bã nhờn quá nhiều sẽ làm đóng các lớp vảy mà ta gọi là "cứt trâu". Đến 3 tháng tuổi, điều tiết sẽ cân bằng, nên có thể cách khoảng các lần gội đầu. 

Chải tóc cho bé là cần thiết? Đúng. Ban đầu, có thể dùng tay để vuốt tóc bé. Khi tóc mọc đều và nhiều thì nên dùng lược có lông bằng tơ, để không gây dị ứng da đầu. Đừng dùng lược được thiết kế cho tóc người lớn để chải cho bé.

Khi tắm cho bé bằng sữa làm sạch, có cần phải rửa lại với nước? Nếu trên sản phẩm không có ghi "sans rincage" hoặc "no wash" thì bạn nên rửa lại cho bé. Khi lau chùi da, nhũ tương của sản phẩm sẽ để lại những cặn dầu và bụi bẩn, có thể gây dị ứng da. Còn các loại sữa "không cần rửa" không có hoạt chất mạnh, được chế biến sao cho khi lau vết bẩn, chúng không để lại màng nhờn. Loại này bạn chỉ nên sử dụng vào những lúc di chuyển hoặc trong những trường hợp cấp bách mà thôi.

Khăn tắm ướt có tiện lợi không? Nhiều bác sĩ nhi khoa không khuyến khích dùng loại này vì chất tẩm có thể gây kích ứng da. Nhưng nếu thích, bạn có thể chọn loại có công thức đặc biệt dành cho bé. Dù là khăn tẩm dùng cho mặt hay cơ thể, nên thử ở cổ tay của bé trước khi sử dụng. Nếu da nổi mẩn đỏ thì nên loại bỏ.

Cắt móng tay, móng chân cho bé như thế nào? Không nên làm việc này trước khi bé được 1 tháng. Dùng một loại kéo đặc biệt dành riêng cho việc cắt móng, kéo có đầu tròn và nhớ vành tròn móng để hai bên khóe không chạm vào thịt. Nếu móng quá cứng, nên dùng dũa tròn.

Nên massage bé với loại sản phẩm nào? Massage luôn mang lại sự thư giãn tuyệt vời cho bé. Ngày trước, loại thường dùng là dầu hạnh đào, nhưng nó cũng có khuyết điểm: Để lại màng nhờn trên da bé. Hiện nay, có nhiều loại sữa thật loãng hoặc dầu khô rất phù hợp cho da bé. Các động tác massage phải thật chậm, nhẹ nhàng. Ngoài thư giãn, bé còn nhận được sự chăm sóc, yêu thương của mẹ và tự tin hơn.


Đông y trị chứng khóc đêm ở trẻ nhỏ
Trẻ khóc đêm nhiều hay còn gọi là khóc dạ đề, thường thấy ở trẻ mới sinh: Trẻ cứ đến đêm là khóc to và liên tục nhiều đêm như thế, thậm chí khóc thâu đêm, đến sáng thì lại thôi. Đông y cho rằng vì hai nguyên nhân chính là tỳ hàn, tâm nhiệt, ngoài ra còn do kinh hãi, tích trệ. Nhưng nói chung, sức khỏe trẻ vẫn tốt, không liên quan gì đến thời tiết. 
Những điều cần biết: 
Quan sát tỉ mỉ để tìm ra nguyên nhân làm trẻ khóc: như đói khát, nóng bức, bế trẻ quá chặt, muỗi cắn, sưng rốn, tắc mũi để kịp thời xử trí. 
Buồng ngủ phải sạch sẽ và yên tĩnh. 
Sau đây xin giới thiệu những bài thuốc dân gian để bạn đọc tham khảo: 
Bài 1: Bố chính sâm (tẩm gừng sao) 4g, bạch truật (tẩm đất vàng sao) 4g, cam thảo nướng 2g, gừng tươi 1 lát, sắc uống. 
Bài 2: Xác ve sầu từ 7-9 cái, ngắt bỏ đầu bỏ chân, thêm hai ngọn kinh giới cho vào chén con nấu cách thủy hoặc hấp cơm lấy chút nước cho trẻ uống. 
Bài 3: Xác ve sầu 3g, bạc hà 1,5g, bấc đèn 1,2g, sắc uống hằng ngày, ngày hai lần. 
Bài 4: Hoàng đằng 4g, lá tre gai 4g, gừng tươi 1 lát, bố chính sâm 4g, cảm thảo 1g, sắc uống. 
Bài 5: Thạch xương bồ tươi 10g, giã vắt lấy nước uống. 
Bài 6: Hạt bìm bìm đen 4g, tán nhỏ hòa với nước cho uống. 
Nếu khóc cả ngày cả đêm: nhũ hương 6g, mộc dược 6g, sắc đặc lấy nước mài với mộc hương cho uống. Hoặc hạt cải bẹ (lá bạc tử) 10g sao, sắc uống. 
Cách chữa bên ngoài: 
Chu sa 3g, lấy một tờ giấy mỏng, trên mặt quét lớp hồ, rắc bột chu sa lên mặt hồ, rồi buộc dưới hai bàn chân. 
Lá chè nhai nát rồi buộc vào rốn, dùng cho loại tỳ hư. 
Hạt dành dành núi 1 hạt, nghiền thành bột, 9g bột mỳ, rượu trắng 5ml, tất cả trộn nặn thành viên, buộc vào động mạch đập ở hai tay, sau 24 giờ tháo ra, dùng cho loại tâm nhiệt. 
Ngô thù du 10g, ngũ bội tử 15g, chu sa 5g, bột gạo 15g, tất cả nghiền thành bột trộn thành hồ, buộc vào hai lòng bàn chân, ngày một lần, dùng cho loại sợ hãi. 
Những điều cần tránh: 
Khi trẻ khóc đêm cần tránh lạm dụng thuốc ngủ, thuốc an thần. 
Vì trẻ không nói được, nếu bệnh gây khó chịu làm trẻ quấy khóc thì cần đưa trẻ đi bệnh viện kiểm tra ngay.
http://shoptretho.com.vn - Thiên đường cho bé
Read more...

Kinh nghiệm chăm sóc bé - Phần 10

(lamchame)


Viêm phổi ở trẻ em cách nhận biết và xử trí tại nhà
I. Tầm quan trọng của viêm phổi ở trẻ em
- Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) là bệnh thường gặp nhất ở trẻ em, nhất là ở trẻ em dưới 5 tuổi. Người ta ước tính rằng mỗi năm một em bé dưới 5 tuổi có thể mắc phải từ 3 – 8 lần NKHHCT.
- Trong phần lớn trường hợp, bé có thể tự khỏi trong vòng 5 – 7 ngày nếu được chăm sóc đúng cách. Tuy nhiên, khoảng 1/3 các trường hợp, bệnh sẽ diễn tiến thành viêm phổi và cần phải được điều trị cẩn thận bằng cho trẻ uống thuốc kháng sinh thích hợp để tránh những biến chứng nặng nề, thậm chí tử vong.
- Do nhiều hoàn cảnh và lý do khác nhau, tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, vẫn còn khá nhiều trẻ dưới 5 tuổi chết vì viêm phổi. Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) cho biết hàng năm có gần 13 triệu trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn thế giới tử vong, trong số đó 4,3 triệu trẻ chết vì NKHHCT mà chủ yếu là viêm phổi.
- Như vậy ước tính có khoảng 10.000 tử vong mỗi ngày, và chưa có bệnh nào làm trẻ chết nhiều đến như vậy! Ở Việt Nam, ước tính có khoảng 20.000 trẻ em dưới 5 tuổi chết do viêm phổi mỗi năm.
- Vì vậy người ta có thể nói rằng có ba “hung thần” đối với trẻ em ở các nước đang phát triển: viêm phổi, tiêu chảy và suy dinh dưỡng.
- Vậy làm thế nào chúng ta có thể phát hiện và điều trị sớm viêm phổi ở trẻ em để có thể chặn đứng kịp thời lưỡi hái của “hung thần” này? Đây cũng là mối quan tâm lớn của các bậc cha mẹ cũng như của ngành Y tế.
II. Làm thế nào để phát hiện sớm viêm phổi?
- Ba câu hỏi lớn mà chúng ta cần trả lời là:
1. Làm thế nào để có thể phát hiện thật sớm là trẻ bị viêm phổi?
2. Làm thế nào để biết là viêm phổi đã nặng cần phải cho trẻ nhập viện điều trị?
3. Đâu là dấu hiệu cho biết bệnh của trẻ đã tới mức nguy hiểm cần phải đi bệnh viện cấp cứu ngay lập tức?
- TCYTTG đã dày công nghiên cứu và tìm ra các phương tiện rất đơn giản, dễ dàng mà lại chính xác để giúp chúng tacó thể áp dụng ngay tại nhà.
1. Làm thế nào để có thể phát hiện thật sớm là trẻ bị viêm phổi?
- Khi trẻ bị viêm phổi, phổi của trẻ sẽ mất tính mềm mại và không thể giãn nở dễ dàng khi trẻ hít thở mà hậu quả là trẻ có thể bị thiếu oxy. Vì vậy trẻ buộc phải thở nhanh hơn dể bù đắp lại sự thiếu hụt này.
- Dựa theo công trình nghiên cứu khoa học quy mô tại nhiều nơi trên thế giới, TCYTTG đã thấy rằng: thở nhanh là triệu chứng xuất hiện sớm nhất khi trẻ vị viêm phổi, sớm hơn cả các dấu hiệu có được khi nghe phổi bằng ống nghe và cũng là triệu chứng rất dễ phát hiện ở mọi lúc, mọi nơi chỉ bằng một phương tiện rất dễ tìm: đồng hồ có kim giây.
- Chúng ta có thể đếm được nhịp thở của trẻ trong trọn một phút để xem trẻ có thở nhanh hay không. Gọi là thở nhanh khi:
· Nhịp thở từ 60 lần/phút trở lên ở trẻ dưới 2 tháng.
· từ 50 lần/phút trở lên ở trẻ từ 2 - 11 tháng.
· từ 40 lần/phút trở lên ở trẻ từ 12 tháng – 5 tuổi.
Khi đó trẻ đã có triệu chứng viêm phổi, cần được đưa đến cơ sở y tế thăm khám và điều trị ngay.
- Vì nhịp thở có thể tăng khi trẻ gắng sức (bú, quấy khóc...) nên chúng ta cần phải đếm nhịp thở khi trẻ nằm im, tốt nhất khi ngủ.
2. Dấu hiệu của viêm phổi nặng
- Khi viêm phổi diễn tiến thành nặng, phổi sẽ ngày càng mất tính mềm mại có thể trở nên đặc cứng làm trẻ phải gắng sức nhiều để thở. Khi đó các cơ hô hấp, đặc biệt là cơ hoành - một loại cơ hô hấp ngăn đội ngực và bụng, phải tăng cường co bóp để bù đắp. Khi đó phần dưới lồng ngực của trẻ sẽ bị cơ này kéo lõm vào khi trẻ hít vào.
- Như vậy khi trẻ có dấu hiệu thở co lõm lồng ngực thì bệnh viêm phổi đã nặng, cần nhập viện ngay để điều trị.
- Để nhận ra chính xác dấu hiệu này, chúng ta cần vén áo trẻ cao lên để thấy rõ vùng ngực và vụng trẻ, quan sát khi trẻ nằm yên, không bú, không khóc.
3. Các dấu hiệu nguy hiểm
Là các dấu hiệu cho biết trẻ đang trong tình trạng nguy kịch, tính mạng đang bị đe dọa, cần phải đưa trẻ đi bệnh viện cấp cứu ngay lập tức để còn có thể cứu sống được trẻ. Những dấu hiệu này không chỉ có trong bệnh viêm phổi mà còn có thể có trong nhiều loại bệnh nặng khác cũng cần được cấp cứu kịp thời.
- Ở trẻ dưới 2 tháng, đó là: bỏ bú hoặc bú kém, co giật, trẻ ngủ li bì – khó đánh thức trẻ dậy, sốt hoặc lạnh, thở khò khè.
- Ở trẻ từ 2 tháng – 5 tuổi, đó là: trẻ không thể uống được gì cả, co giật, ngủ li bì – khó đánh thức, thở có tiếng rít, suy dinh dưỡng nặng.
III. Cách chăm sóc trẻ bị viêm phổi tại nhà
- Khi bị viêm phổi, trẻ có thể được điều trị tại nhà. Bốn công việc cần phải làm là: 
1. Cho trẻ uống kháng sinh thích hợp.
2. Điều trị các triệu chứng kèm theo: sốt, khò khè.
3. Biết cách chăm sóc trẻ tại nhà.
4. Biết được khi nào cần đưa trẻ đến khám lại bao gồm tái khám theo hẹn và khám lại ngay lập tức khi trẻ trở nặng.
1. Điều quan trọng nhất để trẻ có thể khỏi bệnh là trẻ cần phải được cho uống kháng sinh thích hợp đúng cách, đủ liều và đủ thời gian. Khi được thầy thuốc chỉ định, các bậc cha mẹ cần nhận biết đúng dạng thuốc cần cho trẻ uống, liều lượng mỗi lần uống, số lần uống trong ngày và số ngày cần cho trẻ uống thuốc. Đối với các loại thuốc viên, cần tán nhỏ viên thuốc trước khi cho trẻ uống (có thể cho vào một ít nước và chờ vài phút, nước sẽ làm viên thuốc bở ra và dễ nghiền nhỏ hơn). Có thể pha thêm một ít đường, hoặc pha với một ít sữa, nước cháo để bé có thể uống dễ dàng hơn. Nếu trẻ ói trong vòng 30 phút sau khi uống thuốc, cần cho bé uống lại một liều khác.
Tuy nhiên cũng cần tránh lạm dụng kháng sinh khi trẻ chỉ bị cảm ho thông thường. Thật thế ngoài viiệc tốn kém, tác dụng phụ trước mắt hay lờn thuốc về lâu về dài, người ta cũng đã chứng minh được rằng việc lạm dụng kháng sinh như thế cũng không ngừa được biến chứng viêm phổi ở trẻ chỉ bị ho cảm thông thường.
2. Tùy trường hợp mà thầy thuốc sẽ cho trẻ các loại thuốc cần thiết khác như thuốc hạ sốt (Paracetamol), thuốc điều trị khò khè (Salbutamol, Trebutaline). Cần cho trẻ uống đúng theo hướng dẫn dù rằng các loại thuốc này cũng khá an toàn cho trẻ em.
3. Cách chăm sóc trẻ tại nhà
- Cần phải tăng cường cho trẻ ăn, bú, tránh các tập quán kiêng ăn. Cần cho trẻ ăn đủ chất, bú đều đặn khi đang bệnh. Khi trẻ vừa khỏi bệnh cũng cần bồi dưỡng thêm cho trẻ mau lại sức. Đối với trẻ nhỏ, khi mũi bị nghẹt, tắc, trẻ sẽ kho bú, khó ăn hơn. Vì vậy cần thông thoáng mũi, để trẻ có thể bú, ăn dễ dàng hơn.
- Cần cho trẻ uống nhiều nước hoặc tăng cường cho trẻ bú. Đây là điều rất quan trọng vì trẻ bị viêm phổi cần được cung cấp nhiều nước để làm loãng đàm, dịu họng, giảm ho.
- Riêng đối với vấn đề ho, chúng ta cần lưu ý: khi trẻ bị NKHHCT, ho chính là một phản xạ có lợi để tống đàm dãi ra ngoài, giúp đường thở được thông thoáng cho trẻ có thể hít thở dễ dàng. Vì vậy không nên lạm dụng các loại thuốc ho để kìm hãm phản xạ có lợi này của trẻ nhất là khi hiện nay có nhiều loại thuốc ho có thể gây ngộ độc, tác dụng phụ quan trọng ở trẻ em nếu dùng không đúng cách. Trên thực tế nếu dùng đúng loại kháng sinh thích hợp để trị viêm phổi cũng sẽ giúp trẻ giảm ho nhanh chóng. Chỉ khi nào trẻ ho nhiều dẫn đến những hậu quả xấu cho trẻ như nôn ói, mất ngủ, đau tức ngực, đau rát họng... chúng ta có thể cho trẻ dùng các thuốc ho an toàn. TCYTTG cũng như Bộ Y tế khuyến cáo nên dùng các loại dược thảo, thuốc nam an toàn đã từng được lưu truyền rất rộng rãi trong dân gian: tắc (quất) chưng đường, rau tần dầy lá, mật ong, gừng... Các loại thuốc ho như sirop Astex (dùng tại BV. Nhi Đồng 1), sirop Pectol E là các thuốc có thành phần chính là thảo dược an toàn (Tần dầy lá, núc nác...) cũng có thể được sử dụng cho trẻ em.
4. Vấn đề tái khám
- Tái khám theo hẹn: trẻ cần được bác sĩ khám lại sau 2 ngày để đánh giá xem thuốc kháng sinh này có hiệu quả tốt hay không. Ngay trong trường hợp tốt nhất (trẻ thở trở lại bình thường, hết sốt, ăn – bú khá hơn) trẻ cũng cần phải tiếp tục cho uống kháng sinh đủ thời gian là 5 ngày.
- Nếu sau 2 ngày tái khám, nếu trẻ còn thở nhanh, thầy thuốc sẽ cho bé dùng một loại kháng sinh cần thiết káhc hoặc cho cháu nhập viện điều trị.
- Khám lại ngay: cũng cần lưu ý theo dõi và đưa ngay trẻ đến cơ sở y tế, bệnh viện nếu thấy trẻ có một trong các dấu hiệu sau: thở khó khăn (thở nhanh hơn - mạnh hơn, thở co lõm lồng ngực), trẻ không thể uống được nước, trẻ trở nên mệt hơn. Đây là những dấu hiệu cho biết bệnh của trẻ đã trở nặng, cần nhập viện ngay.
V. Kết luận
- Viêm phổi là bệnh rất phổ biến ở trẻ em dưới 5 tuổi mà nếu không được phát hiện, chữa trị sớm, đúng cách trẻ rất dễ tử vong.
- Chúng ta có thể tóm lược cách phát hiện và xử trí tại nhà như sau:
1. Trẻ có dấu hiệu nguy hiểm = bệnh rất nặng, nhập viện cấp cứu
2. Trẻ thở co lõm lồng ngực – viêm phổi nặng, cần nhập viện ngay
3. Trẻ thở nhanh = viêm phổi, cần uống kháng sinh tại nhà – tăng cường ăn uống - sử dụng thuốc ho an toàn.
- Đây cũng là nội dung cơ bản nhất của phác đồ xử trí NKHHCT do TCYTTG đề ra từ 1990, đang được áp dụng rộng rãi tại các nước đang phát triển và đã chứng minh hiệu quả thực tế trên phạm vi toàn cầu: người ta đã ước tính chỉ với những cách làm khá đơn giản nêu trên đã giúp giảm được 50% tử vong do viêm phổi, cứu sống được khoảng 600.000 trẻ dưới 5 tuổi mỗi năm tránh khỏi lưỡi hái của hung thần viêm phổi trên toàn thế giới.


http://shoptretho.com.vn - Thiên đường cho bé
Read more...
 
Shop Trẻ Thơ | Thông tin cần thiết cho mẹ và bà bầu © 2011 Shop Tre Tho &

Chuyen cung cap do so sinh tron goi